1. Phân biệt giữa xổ số và lô đề?

– Về bản chất:

+ Đánh lô và đề là việc sử dụng những con số của giải xổ số để đặt cược và trúng thưởng. Tuy nhiên, đánh lô và đề bị coi là hành vi vi phạm pháp luật do Nhà nước nghiêm cấm. Chủ thể và tổ chức thực hiện hành vi này có thể bị xử lý và xử phạt về hành vi đánh bạc.

+ Xổ số là một dạng trò chơi có thưởng mà người chơi sẽ thông qua những tờ vé số và kết quả trả thưởng thuộc nhà nước phát hành. Kinh doanh xổ số là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện, được kiểm soát chặt chẽ bởi cơ quan nhà nước để đáp ứng nhu cầu giải trí của người dân có thu nhập hợp pháp và đảm bảo an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

– Đối tượng phát hành:

+ Đánh lô và đề: Là nhóm cá nhân, tổ chức.

+ Xổ số: Do cơ quan Nhà nước phát hành.

– Cách thức xác định việc trúng giải:

+ Đánh lô và đề: Chỉ sử dụng 2 số cuối cùng của xổ số để xác định giải.

+ Xổ số: Xổ số có cơ cấu 27 lô giải, mỗi lô là một bộ số từ 2 số đến 5 số, kèm theo các ký tự đặc biệt.

– Số lượng người trúng giải:

+ Lô và đề: Không giới hạn người trúng giải.

+ Xổ số: Khoảng 11.000 vé trúng thưởng trên tổng số 1 triệu vé bán ra.

– Giá trị giải thưởng:

+ Lô và đề: Giá trị giải thưởng phụ thuộc vào số tiền mà người chơi bỏ ra.

+ Xổ số: Giá trị giải thưởng theo quy định của cơ quan chức năng có thẩm quyền.

2. Tại sao lô đề bất hợp pháp?

– Nhà nước cho phép và công nhận hoạt động kinh doanh xổ số. Theo đó, kinh doanh xổ số là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chịu sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đảm bảo đáp ứng nhu cầu giải trí của một bộ phận người dân có thu nhập chính đáng và đảm bảo an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Đối với hoạt động này, bên cạnh việc chi trả thưởng cho người tham gia thì thu nhập từ hoạt động kinh doanh xổ số còn dùng để trả tiền lương cho nhân viên, tiền hoa hồng cho đội ngũ phân phối và góp vào Ngân sách nhà nước để chi tiêu cho lợi ích cộng đồng. Ngoài ra, người trúng thưởng cũng sẽ thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước khi giá trị giải thưởng trên 10 triệu đồng.

Xem thêm:  Giải mã giấc mơ thấy số 64 - Bí quyết đánh lô con gì để thắng lớn

– Còn đối với hình thức kinh doanh lô đề, đây là một hình thức biến chất của xổ số. Các cá nhân, tổ chức tổ chức lô đề sẽ ghi lô đề, lấy tiền của người đánh. Hình thức đánh lô đề này mang tính chất tự phát, tỷ lệ ăn thua cao. Đăch biệt, nó biến chất, khiến nhiều nhà cái ôm tiền, hành vi rửa tiền, cùng nhiều hình thức tín dụng đen liên quan khác. Tức nó xảy ra nhiều hệ lụy.

Chính bởi những lý do nêu trên, hành vi đánh lô đề được xem là hành vi vi phạm pháp luật. Chủ thể vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

3. Mức xử phạt đối với hành vi chơi lô đề:

3.1. Mức xử phạt hành chính:

Theo quy định tại Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, mức phạt hành chính cho hành vi đánh bạc trái phép (chơi lô đề) là:

– Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.

– Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây:

+ Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;

+ Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép;

+ Cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác;

+ Bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề.

– Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

+ Nhận gửi tiền, cầm đồ, cho vay tại sòng bạc, nơi đánh bạc khác;

+ Che giấu việc đánh bạc trái phép.

– Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây:

+ Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép;

+ Dùng nhà, chỗ ở của mình hoặc phương tiện, địa điểm khác để chứa bạc;

+ Đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép;

+ Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép.

Xem thêm:  Dự đoán XSMB ngày 5/2/2024 - Thống kê XSMB thứ 2

– Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh đề sau đây:

+ Làm chủ lô, đề;

+ Tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề;

+ Tổ chức mạng lưới bán số lô, số đề;

+ Tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền.

3.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, hành vi đánh bạc (bao gồm cả chơi lô đề) sẽ bị xử lý xử phạt như sau:

– Cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

– Cá nhân, tổ chức phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

+ Có tính chất chuyên nghiệp;

+ Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

+ Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Chủ thể phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Như vậy, đối với hành vi chơi lô, đề hoặc các hành vi liên quan đến đánh bạc, đối tượng vi phạm có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

4. Mẫu đơn tố cáo hành vi đánh lô đề:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—-o0o—-

…, ngày … tháng … năm …

ĐƠN TỐ CÁO

(V/v: Ông….. có hành vi đánh bạc/ tổ chức đánh bạc tại…….)

Kính gửi:

– Công an xã (phường, thị trấn)……

– Ông…….. – Trưởng công an xã……

– Căn cứ Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

Xem thêm:  Tìm hiểu về tổng đề trong lô đề và các con số của nó

(Hoặc:

– Căn cứ Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.)

Tên tôi là:…….. Sinh năm:………

Chứng minh nhân dân số:….. do CA….. cấp ngày…./…./……

Địa chỉ thường trú:……

Hiện đang cư trú tại:……

Số điện thoại liên hệ:……

(Nếu là tổ chức thì trình bày những thông tin sau:

Công ty:………

Địa chỉ trụ sở:……

Giấy CNĐKKD số:…. Do Sở Kế hoạch và đầu tư…….. cấp ngày…/…./…….

Hotline:…. Số Fax:……

Người đại diện theo pháp luật: Ông/Bà…….. Sinh năm:……

Chức vụ:……

Căn cứ đại diện:……

Chứng minh nhân dân số:….. do CA……….….. cấp ngày…./…./……

Địa chỉ thường trú:……

Hiện đang cư trú tại:……

Số điện thoại liên hệ:………

Tôi xin trình bày với Quý cơ quan sự việc sau:……

(Trình bày về lý do bạn làm đơn)

Căn cứ Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định:

“Điều 26. Hành vi đánh bạc trái phép

…”

Tôi nhận thấy rằng, hành vi của những đối tượng sau:

1./Ông:… Sinh năm:………

Chứng minh nhân dân số:…….. do CA…….. cấp ngày…./…./……

Địa chỉ thường trú:……

Hiện đang cư trú tại:……

Số điện thoại liên hệ:………

2./Ông:…….. Sinh năm:………

Chứng minh nhân dân số:….. do CA……. cấp ngày…./…./……

Địa chỉ thường trú:……

Hiện đang cư trú tại:……

Số điện thoại liên hệ:……

3./… (Liệt kê những người có hành vi đánh bạc trái phép)

(Trường hợp bạn không nắm được tất cả những thông tin này, bạn chỉ cần trình bày những thông tin bạn biết)

Là hành vi vi phạm pháp luật và phải bị xử phạt theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Do vậy, tôi làm đơn này kính đề nghị Quý cơ quan xem xét, tiến hành điều tra, xác minh và xử lý những đối tượng trên theo quy định của pháp luật.

Tôi xin cam đoan những thông tin mà mình đã nêu trên là đúng sự thật.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người làm đơn

(ký và ghi rõ họ tên)

Văn bản pháp luật sử dụng trong bài viết:

Bộ luật hình sự 2015;

Nghị định 167/2013/NĐ-CP.